Từ Dạ cổ hoài lang đến bản Vọng cổ ngày nay

Vào những năm đầu của thế kỉ XX, phong trào Đờn ca tài tử nổi bật khắp Nam Kỳ lục tỉnh. Khi ấy những bài bản như Tứ Đại Oán, Văn Thiên Tường, Hành vân,… gần như chiếm vị trí “độc tôn” trong hệ bài bản của Đờn ca tài tử, những lời ca viết dựa trên các bài bản này cũng rất đáng kể. Đến năm 1919, giữa không khí xôn xao, đầy áp đảo của những bài bản này, “Dạ cổ hoài lang” được ra đời đã tạo nên sức ảnh hưởng lớn và là gốc rễ để hình thành nên bản Vọng cổ ngày nay.

“Dạ cổ hoài lang” được cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu (1892-1976) sáng tác vào năm 1919 (về năm ra đời của bản này có rất nhiều luồng ý kiến, có người cho rằng năm 1917, 1918, 1919 và 1920, tuy nhiên ý kiến nghiêng về năm 1919 thì đông đảo hơn cả). Đây là khúc ca “đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng” (“Dạ cổ” – tiếng trống đêm khuya; “hoài lang” – nhớ chồng) mà người nhạc sĩ tài hoa viết dựa trên câu chuyện tình của đời mình.

Chân dung cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu (1892-1976). Nguồn: Sưu tầm

Nhạc sĩ Cao Văn Lầu (tức Sáu Lầu) sinh năm 1892 tại rạch Cây Cui, thôn Thuận Lễ, tổng Thạnh Hội Hạ, phủ Tân An, tỉnh Gia Định, bây giờ là Mỹ Thuận, Tân An, Long An. Năm lên 6 tuổi, gia đình của cậu bé Sáu Lầu cùng với 19 gia đình khác dắt dìu nhau về lập nghiệp tại Gia Hội, Bạc Liêu. Ở đó, cậu bé Sáu Lầu đã thọ giáo với nhạc sĩ Hai Khị, một nhạc sĩ đàn ca tài tử có tiếng khắp lục tỉnh Nam Kì lúc bấy giờ. Năm 21 tuổi, chàng thanh niên Sáu Lầu được mai mối kết hôn với cô Trần Thị Tấn. Dù trong cảnh nghèo khó, nhưng đôi vợ chồng son vẫn yêu thương nhau rất mực. Số phận trớ trêu, tám năm ân ái mà họ vẫn chưa có được mụn con nào. Theo đúng truyền thống phong kiến “Tam niên vô tử bất thành thê” (cưới nhau đã ba năm mà không thể sinh con thì không được xem là vợ nữa), mẹ ông đã buộc ông phải trả vợ. Nếu phải chìu lòng thân mẫu vì cái câu ác nghiệt “Tam niên vô tử”, thì chàng thanh niên Sáu Lầu cũng hiểu rõ cái câu “Nhất nhật phu thê bá dạ ân” (Một ngày là vợ chồng thì trăm năm ân nghĩa). Bởi thế, Sáu Lầu ngày đêm thương nhớ vợ hiền, mong mỏi ngày đoàn tụ. Trong tâm trí, ông nghĩ rằng vợ ông chắc cũng đang chịu cảnh sầu thảm nhớ nhung giống như ông. Thương thay cho người vợ tuổi mới đôi mươi buộc phải xa chồng, chịu bao tiếng đời ác nghiệt, để rồi đêm đêm mong ngống chồng mòn mõi như thiếu phụ trông ngóng chinh phu ngoài vạn lý xa xôi. Tức cảnh sinh tình, người chồng Sáu Lầu đã viết nên một bài ca mang tên là “Hoài Lang” (Trông chồng), như để nói giùm nổi lòng của người vợ tào khang. Do quá nhớ thương, thi thoảng vợ chồng ông vẫn lén lút gặp nhau. Sau, vợ ông thụ thai, 2 người lại được xum họp. Sau đó 2 ông bà sinh được 7 người con (5 trai, 2 gái)

Về lời ca, nhạc sĩ Sáu Lầu phóng tác theo bài thơ “Chinh phụ thán” của nhạc sư Nguyệt Chiếu – trụ trì chùa Phật Hòa Bình ở Bạc Liêu. Bài thơ mang âm hưởng tích “Tô Huệ Chức Cẩm Hồi Văn” đời nhà Tần (Trung Quốc). Ngoài ra, trong Dạ cổ hoài lang có nhiều câu tương tự như bản Hành vân và các điệu lý Nam Bộ. Chẳng hạn, câu “Là nguyện cho chàng” rất giống câu “Là hội ca cầm” trong bài Hành vân; câu “Em luống trông tin chàng, ôi gan vàng quặn đau…” tương tự câu “Thương nhớ thương trong lòng, trong lòng tôi thương…” trong bài Lý chiều chiều… Về nhạc và tên bài hát, tuy vừa ý với chữ Hò khởi đầu của bài Lưu Thủy, song ông không dứt khoát được chữ đờn trong bài và chưa khẳng định số câu. Bài này lúc đầu có 22 câu và ông đặt tên là “Hoài lang”. Danh ca Bảy Kiên nhận thấy có vài câu trùng ý, đề nghị rút lại còn 20 câu. Đồng thời ông Bảy Kiên còn thêm vào hai chữ “Dạ cổ”, thành ra “Dạ cổ hoài lang”. Nhạc sĩ Sáu Lầu thấy có lý nên hoàn chỉnh lại bản Dạ cổ hoài lang còn 20 câu. Và thuở mới ra đời bài được viết theo nhịp đôi nhưng là hơi Bắc chính, về sau các nhạc sĩ có sự thay đổi về làn hơi của bài này theo hơi Ai, Oán mà do đó bản chúng ta nghe hiện nay có phần chậm rãi cũng như da diết, mùi mẫn hơn.

(Ảnh: Bản Dạ cổ hoài lang. Nguồn: Sưu tầm)

Dạ cổ hoài lang (hơi Bắc). Trình bày: Nhạc sĩ Đức Trí.

Dạ cổ hoài lang. Trình bày NNDG Bạch Huệ. 

“Dạ cổ hoài lang có cách cấu trúc, phát triển tương tự như một ca khúc, là một giai điệu không thể sửa đổi, không thể ca khác được. Nhưng khi từ nhịp hai (đôi) được các nhạc sĩ mở ra nhịp tư mà người ta gọi là Vọng cổ hoài lang và sau đó là vọng cổ thì đã không phải là ca khúc nữa mà theo cấu trúc mở, mở ra con đường để người ta sáng tạo.

Nhịp tư là quan trọng nhất, là phát pháo (khúc thức nhạc) đầu tiên để các nhạc sĩ tiếp tục mở ra đến nhịp 8, nhịp 16, nhịp 32… Nó mở để cả người đờn, người ca đều có thể sáng tạo, bay bổng, không gò bó”. – nhạc sĩ Huỳnh Khải chia sẻ qua bài viết “100 năm Dạ cổ hoài lang”

Năm 1925, ông Huỳnh Thủ Trung, tức Tư Chơi, sáng tác lời ca cho bài “Vọng cổ” nhịp tư mang tên “Tiếng nhạn kêu sương” trong đó có đoạn:

“Nhạn đành kêu sương nơi biển Bắc
Én cam khóc hận dưới trời Nam”.

Từ bản này, vọng cổ bước một bước thay đổi quan trọng: Chữ nhạc trong bài không theo hơi Bắc (tức Bắc chính) nữa mà đổi sang hơi Bắc Oán.

Bài mẫu:

Vọng cổ nhịp 4 (Tiếng nhạn kêu sương). Trình bày NNDG Bạch Huệ

Bản nhịp tám, từ năm 1936, bắt đầu ngân nga hơn bản nhịp tư. Người góp công làm bản nhịp tám được công chúng ưa chuộng phải kể đến nghệ sĩ Lưu Hoài Nghĩa tức Năm Nghĩa, ca bài “Văng Vẳng tiếng chuông chùa” vọng cổ nhịp 8. Nhiều bản tuồng nhịp tám tới nay vẫn còn nổi tiếng, như bản “Tô Ánh Nguyệt” của soạn giả Trần Hữu Trang:

– Sau khi tôi có chết đi rồi, xin Cậu chứng kiến cho tấc lòng tôi mà tỏ hết khúc nói cho ai kia được rõ nỗi khổ tâm của tôi trước giờ tôi nhắm mắt
– Dưới nấm mộ xanh, thân người mạng bạc, ngàn muôn năm linh hồn tôi họa chăng được tiêu tan khối hận chốn tuyền đài
– Mười tám năm dư lắm lúc tôi muốn vạch mặt phơi gan mà than thở với đất trời
– Nhưng mà mối hận tình nó nấu nung trong tim phổi, nghĩ bao nhiêu tội lỗi, gặp mặt ai tôi nói chẳng nên lời
– Ngày hôm nay, tôi sắp lìa xa bao nhiêu kẻ thân yêu quý mến mà từ giã cõi đời
– Cậu ôi, tôi nhờ cậu nói lại với má thằng Tâm rằng tôi mong giũ sạch nợ trần ai đặng thoát ra khỏi vòng tình thiên hận hải, vậy tôi xin có một đôi lời nhắn nhủ cùng với ai.

Bài mẫu:

Vọng cổ nhịp 8 (Nhơn sanh bách tuế). NNDG Bạch Huệ.

Năm 1938, nhạc sĩ Vĩnh Bảo đàn cho cô năm Cần Thơ ca vọng cổ nhịp 16. Đĩa Beka thâu vọng cổ nhịp 8, nhịp 16. Tới bản mười sáu, từ năm 1946, mỗi câu bắt đầu dài, như sáu câu sau đây trong “Tôn Tẫn giả điên”, nổi tiếng với giọng ca Út Trà Ôn:

– Úy trời đất ôi! Nỗi đoạn trường, cũng vì tôi đây quá tin thằng Bàn Quyên là bạn thiết cho nên ngày hôm nay thân của tôi phải ra nông nỗi
– Còn như công cuộc ngày hôm nay đây, bởi tôi không cẩn thận cho nên bạn tôi nó mới đành nhẫn tâm chặt lấy một bàn chơn tôi
– Khi tôi còn ở trên non thì tôi quyết ẩn thân tu tâm dưỡng tánh, luyện thuốc trường sanh mong thành chánh quả đặng có tọa hưởng Bồ Đoàn
– Nào hay đâu thằng Bàn Quyên nó lên năn nỉ ỷ ôi, lời ngon tiếng ngọt, nó nói rằng chúa của nó là một đấng minh quân chơn mạng. Bởi vậy cho nên nó bảo tôi một một, hai hai cũng phải xuống mà đầu hàng.
– Cho nên khi ấy tôi mới hạ san, thì thầy của tôi có cho tôi một bức cẩm nang lại dặn tôi rằng: Hễ khi nào lâm nạn thì dở ra xem rồi liêu> chước biến quyền
– Vậy thì tôi đây vọng nguyện với Tôn sư, khai thơ cứu mạng. Ủa sao tôi chẳng thấy điều chi lạ, chỉ thấy trong thơ có một chữ “Cuồng”. Ờ, ờ, phải rồi, đây thầy tôi bảo tôi giả điên đặng có thoát thân.

Thời kỳ vọng cổ nhịp mười sáu cũng là lúc câu vọng cổ có trộn vô những câu nói thơ (tức ngâm thơ, theo điệu Tao Đàn hoặc Vân Tiên) và những câu hò. Đây là sáng kiến của nghệ sĩ Út Trà Ôn ảnh hưởng cho tới nay. Trong bản “Tôn Tẫn giả điên”, Út Trà Ôn nói thơ trong câu 11-12 và hò trong câu 13 như sau:

– Bây giờ buồn quá, để nói thơ cho bà con cô bác nghe chơi: Buồn cười vua Trụ đa đoan, mê nàng Đắc Kỷ rồi giết oan hết cả trào. Nói qua tới lớp vua U mà yêu ấp ả má đào
– Ẵm ôm nàng Bao Tỉ giặc vào cũng không hay. Còn vua Kiết có tánh rồi hay say, nghe lời của Muội Hỷ mà lại giết ngay tôi Long Phùng.
– Hò hơ… chết tôi, tôi chịu xin đừng bận bịu bớ điệu chung tình. Hò hơ… con nhạn bay cao rồi khó bắn, hò hơ… con cá ở ao quỳnh cũng khó câu…

Từ khi có bản vọng cổ mười sáu nhịp, câu nhạc đã bắt đầu đa dạng phong phú.

Bài mẫu:

Vọng cổ nhịp 16 (Tôn Tẫn giả điên). Trình bày NSND Út Trà Ôn.

Khoảng đầu thập niên 50, “đệ nhất danh ca” Út Trà Ôn đã khởi đầu ca bài vọng cổ nhịp 32 mà đa số nghệ sĩ cải lương hiện nay vẫn còn hát. Bản vọng cổ 32 nhịp, từ năm 1955, là bản vọng cổ được coi là tiêu chuẩn hiện nay, mặc dù cũng đã xuất hiện bản 64 nhịp và 128 nhịp, nhưng không mấy phổ biến.

Từ bản 32 nhịp, mỗi câu bắt đầu có vần gieo ngay trong câu, vì 32 nhịp là một quãng quá xa để chỉ có một vần. Câu dưới đây trong bản “Nắng chiều quê ngoại” của soạn giả Viễn Châu là một ví dụ:

Mấy nếp nhà tranh ẩn mình sau hàng tre rủ bóng đang vươn lên ngọn khói lam chiều. Cảnh hoàng hôn sao nhuộm vẻ tiêu điều. Khóm lau thưa xào xạc trên lối đường mòn vẳng lặng cô liêu; nhà Ngoại tôi khuất sau mấy lũy dừa xanh soi bóng dịu hiền, bên cạnh mái đình làng đìu hiu cỏ phủ.

Bản vọng cổ 32 nhịp đầy đủ có 6 câu. Tức là ngắn hơn các bản nhịp tám thường có 20 câu. Tuy nhiên, ngay cả 6 câu cũng có khi không sử dụng hết. Bản vọng cổ khi ghi ra giấy, do đó, thường có đánh số câu để người nghệ sĩ biết bản nhạc sử dụng câu nào. Hai câu 1 và 4 thường chỉ có 16 nhịp cuối câu.

Khi bản vọng cổ đã tới 32 nhịp, nhiều soạn giả thêm vào những câu nói giặm. Để nghệ sĩ vô ca vọng cổ cho êm, soạn giả cũng thường gối đầu bằng một khúc nói lối văn xuôi, những câu nói lối văn vần (lục bát, song thất lục bát, tứ tuyệt, hoặc cả thơ mới), hoặc một bản ngắn cổ điển như Lưu thủy, Hành vân, Sương chiều, hoặc tiêu biểu là Lý con sáo… Cho đến những năm của thập niên 60, bản Vọng cổ lại tiếp tục phát triển lên những thể thức mới như Tân cổ giao duyên, Vọng cổ hài, mà những thể thức này gắn liền với tên tuổi của “ông vua vọng cổ” – NSND – Soạn giả Viễn Châu.

Bài mẫu:

Vọng cổ Nắng chiều quê ngoại. Trình bày NSND Lệ Thuỷ

Bài (bản) vọng cổ nhịp 32 có hai khả năng sử dụng : một là bài ca lẻ (sử dụng độc lập), hai là kết hợp sử dụng được thiết kế trong các kịch bản cải lương và rất được phổ biến trong cải trong từ những nam thập niên 50 đến nay. Hơn nửa thế kỷ, bản vọng cổ đã ngự trị trong dòng âm nhạc cải lương như một giai điệu chủ lực không thể thiếu được. Có thể nói, vọng cổ 32 hiện nay là ”hoàng đế’ của cải lương và là người Việt Nam từ Nam chí Bắc ai cũng biết nó và thậm chí rất nhiều người biết ca vọng cổ.

Có thể thấy, hành trình từ “Dạ cổ hoài lang” đến bản “vọng cổ” là hành trình phát triển từ một tác phẩm cá nhân đến thành công của cả tập thể nghệ sĩ lúc bấy giờ. Tuy rằng, không nằm trong 20 bài bản tổ nhưng bản “Dạ cổ hoài lang” của cụ Sáu Lầu ngày ấy đã có sức ảnh hưởng vô cùng rộng lớn và không ngừng lớn lên theo năm tháng, đặc biệt là có biết bao nhạc sĩ, nghệ sĩ đã đóng góp cho việc định hình một bài vọng cổ nhịp 32 hoàn hảo cho người mộ điệu thưởng thức như ngày nay.

Võ Huỳnh Minh Anh

 

Tài liệu tham khảo:

1. Vọng cổ đồng quê (2018) – Các loại nhịp của bản vọng cổ
2. Trang Tạp chí văn hoá (2018) – Điều kỳ diệu của bài vọng cổ
3. Huỳnh Công Tín (2016) – Thành tựu của bản vọng cổ và những đóng góp của Nghệ sĩ Nhân dân Viễn Châu
4. Thanh Phương (2018) – Vọng cổ đi cùng năm tháng
5. Trung Tín (2018) – Bản Dạ cổ hoài lang (nhịp 2) đã ra đời như thế nào?
6. Linh Đoan (2019) – 100 năm Dạ cổ hoài lang